Thực trạng nước sạch và vệ sinh môi trường ở Phú Tân – Phần 1

Huyện cù lao Phú Tân, tỉnh An Giang có diện tích tự nhiên 307 km2, dân số trên 250.000 người. Riêng ở khu vực nông thôn, Phú Tân có đến 27/1/1997 của Ủy ban nhân dân tỉnh An Giang, về việc tiếp tục thực hiện Chỉ thị 200/TTg ngày 29/4/94 của Thủ tướng Chính phủ về đảm bảo nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn, đến tháng 12/97 Phú Tân đã tháo dỡ được 1.889 cầu (53%), hiện hãy còn 1.685 “cầu công cộng” loại này. Nó mặc nhiên phục vụ “cái khoái thứ tư” cho khoảng 40.000 hộ, bình quân 24 hộ sử dụng 1 cầu. Cùng với lượng phân bón, thuốc trừ sâu sử dụng trong công nghiệp được thải ra gần 30.000 ha diện tích đất trồng trọt, và hàng trăm cơ sở sản xuất tiểu thủ công nghiệp gây ô nhiễm môi trường nước. Nguồn nước mặt kém vệ sinh của toàn bộ hệ thống kim rạch, sau khi đã quanh co lan tỏa ở nông thôn được đổ thẳng ra 3 con sông lớn Tiền Giang, Hậu Giang và Vàm Nao – bao quanh Phú Tân bởi một vòng cung hơn ½ chu vi huyện. Do đó việc trước mắt là Phú Tân phải tiếp tục tháo gỡ và thay thế “cầu tỡm” bằng các dạng cầu vệ sinh tự hoại, không chỉ tại từng hộ mà cũng cần quan tâm xây dựng một số cầu công cộng để cả cầu tự hoại di động, để phục vụ thỏa đáng và kịp thời chuyện bức thiết con người.
Phú Tân là huyện đông dân (mật độ hơn 790 người/ km2, so mật độ bình quân toàn tỉnh khoảng 570 người/ km vuông), do sự phân bố dân cư không đều, nhất là tập trung quá nhiều tại khu vực huyện lỵ, tuy là địa bàn nông thôn nhưng lại mang dáng dấp như những khu dân cư trung tâm đô thị. Có nơi, như ở đầu trên ấp Trung 2 xã Tân Hòa, nhà ở vách liền vách, hè liền hè, đến mức không còn được vài tấc đất trống để làm đường mương nhỏ thoát nước, chỉ có một con đường duy nhất là từ từ ngấm xuống. Nước bẩn, mùa khô bốc mùi hôi rất khó chịu; mùa mưa, mực nước ngầm tiềm ẩn lên cao, bão hòa trong đất, nước thải không rút xuống được, nên ứ động, tràn vào nhà. Những hộ giàu, khá đã nâng nền cục bộ, tất nhiên thứ nước dơ ấy “tìm đường” dồn lại nơi thấp trũng – nhà nghèo lãnh đủ. Nước ăn chân, muỗi mòng tha hồ sinh sôi, gieo mầm bệnh. Sức khỏe con người bị đe dọa.
Những “xóm nhà lá” thuộc hai khu vực Chợ Đình và Chợ Mỹ Lương tình hình cũng không khác. Không ít nhà cơi nới chái, bếp ngay trên đường mương thoát nước, chẳng những làm cho rác rưởi ứ nghẹt gây trở ngại cho việc khai thông, nếu chẳng may có xảy ra hỏa hoạn chắc chắn sẽ rất khó lòng cứu chữa kịp thời. Đó là chưa nói đến hàng chục, hàng trăm nhà ở của người nghèo dựng ngay trên đất nghĩa địa sau ấp Trung 1, và đường sau ấp Thượng 2, TT Phú Mỹ, tạo nên một khu vực vừa lổn nhổn mả mồ, vừa nhấp nhô nhà cửa. Rõ ràng, người sống người chết đang thường xuyên tiếp cận, chen lấn nhau từng tấc đất, chẳng những mất vệ sinh do âm khí nặng mùi, mà cũng rất “khó nhìn”.
Nguyễn Phú – Sức khỏe&Đời sống/ Bộ Y tế – Hà Nội – 1998

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *