Nhân lực dược – Phần 1

Một trong những nguồn nội lực rất quan trọng của một ngành là nhân lực, nhất là nhân lực đã được đào tạo theo yêu cầu chuyên môn. So với yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới, nhân lực dược được đào tạo “NLDĐĐT” của ngành dược Việt Nam đã có sự trưởng thành rõ rệt.
Gần thế kỷ dưới sự cai trị của thực dân Pháp số dược sĩ đại học (DSĐH) của chúng ta tốt nghiệp chỉ xấp xỉ 60, do đó chỉ có trên dưới 10 dược sĩ tham gia những ngày đầu kháng chiến chống Pháp (cuối 1946). Hơn 50 năm qua kể từ Cách mạng tháng 8 đến nay, chế độ ta đã đào tạo được hàng vạn dược sĩ đại học và xây dựng được một đội ngũ cán bộ dược đông đảo, đủ các loại trình độ từ trên đại học, đại học, trung học và sơ học. Một điều đáng tự hào. Để thấy rõ nguồn nội lực này, xin nêu một số số liệu và tình hình:
Tính đến năm 1996, số lượng cán bộ được đào tạo ở các trường đã có: 10.324 dược sĩ đại học (Trường đại học y dược thành phố Hồ Chí Minh chỉ tính từ 1976 đến 1996) và 11.403 dược sĩ trung học và kỹ thuật viên trung học dược, riêng số dược tá ước khoảng 18.000 người. Trong số dược sĩ đại học có khoảng 10% trình độ trên đại học.
Chỉ tính đến 1994, tỷ lệ dược sĩ đại học trên 10.000 dân của Việt Nam là 0,8%, một tỷ lệ bằng với Thái Lan cao hơn Malaysia, Philippine, Indonesia.
Về sự phân bố nhân lực dược được đào tạo: số nhân lực dược được đào tạo đã phân bố rộng khắp 7 vùng kinh tế và ở 6 lĩnh vực công tác, quản lý Nhà nước, sản xuất và kinh doanh, dược bệnh viện, nghiên cứu khoa học, đào tạo, kiểm tra chất lượng thuốc. Tuy nhiên qua điều tra, thì sự phân bố trên chưa đồng đều, ở Tây Nguyên và miền núi phía Bắc tỷ lệ dược sĩ đại học (và trên đại học) thấp, trong khi đó ở đồng bằng sông Hồng và Đông Nam Bộ lại cao (gấp từ 2 đến 3 lần). Đại bộ phận nhân lực dược được đào tạo tập trung ở lĩnh vực sản xuất kinh doanh (70,5%) và dược bệnh viện (21,35%). Số người mở nhà thuốc và đại lý bán thuốc tương đối nhiều: Dược sĩ đại học 6146 người (55% là hưu trí) dược sĩ trung học: 2182 (theo nghiên cứu TKYT 1996). Qua điều tra tỷ lệ hành nghề dược tư nhân chiếm 33,9% trên tổng số nhân lực dược.
Cơ cấu nhân lực dược được đào tạo về một số mặt: Dược sĩ đại học tốt nghiệp hệ dài hạn chiếm 79,5%; hệ bổ túc và hàm thụ: 4,67%; hệ chuyên tu: 17,77%. Tuổi nghề dược sĩ đại học: dưới 5 năm: 21,5%, từ 6 – 10 năm 17,4%, trên 10 năm 61,2%. Tuổi đời bình quân: dược sĩ đại học: nam 44, nữ 46. Dược sĩ trung học: nam 40, nữ 41, dược tá: năm 38, nữ 39.
So với toàn bộ nhân lực ngành y tế, thì nhân lực dược chiếm 12,3%. Nhờ có sự phát triển mạnh mẽ về nhân lực dược được đào tạo như đã nêu trên, ngành dược Việt Nam đã có sự đóng góp đáng kể vào việc chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ xâm lược và trong những năm xây dựng cơ sở vật chất cho việc công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước.
Bước vào giai đoạn mới, ngành dược cần làm gì để phát huy nguồn nội lực này? Trong kế hoạch tổng thể triển khai chính sách quốc gia về thuốc có nêu: Tổ chức hội thảo nhằm đánh giá và đề xuất phương hướng phát triển nhân lực dược; rà soát để hoàn thiện mục tiêu, chương trình, nội dung đào tạo nhân lực dược cho phù hợp tình hình mới; tăng cường đầu tư cho các trường đào tạo nhân lực dược; ban hành và áp dụng tiêu chuẩn hóa đội ngũ cán bộ dược ở các cương vị công tác, có chính sách thỏa đáng để thu hút cán bộ công tác ở những nơi cần thiết song song với những quy định có tính bắt buộc làm nghĩa vụ.
Lê Minh –Sức khỏe&Đời sống/ Bộ Y tế – Hà Nội – 1998

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *